Trang

Subscribe:

Chính phủ mới cải cách về công nghiệp

Về công nghiệp:

    Công nhân các nhà máy đã phải đấu tranh, bãi công, bắt buộc chủ phải hợp tác, họ đã phải nhượng bộ. Nhiều xí nghiệp đóng cửa nay đã được khôi phục như mỏ than Làng cầm, Phấn Mễ, Quyết Thắng (Ninh Bình) mỏ thiếc Tĩnh Túc, nhà máy cơ khí ở Trường Thi, nhà máy giấy Đáp Cầu.

    Chính phủ khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho khu vực kinh tế tư nhân trong nước phát triển. Ngày 13-10-1945 Hồ Chủ Tịch gửi thư cho giới công thương Việt Nam, trong đó có ghi: “Trong lúc các giới khác trong quốc dân ra sức hoạt động để giành lấy nền hoàn toàn độc lập của nước nhà, thì giới Công – Thương phải hoạt động để xây dựng một nền kinh tế và tài chính vững vàng và thịnh vượng. Chính phủ nhân dân và tôi sẽ tận tâm giúp giới Công – Thương trong công cuộc kiến thiết này”.

Chính phủ mới cải cách về công nghiệp

    Nhà nước ban hành dự thảo luật lao động, bảo vệ quyền lợi tối thiểu của người công nhân như tiền lương, điều kiện làm việc, tiền trợ cấp khi thôi việc, quyền hưởng những quyền lợi ngang nhau giữa nam và nữ công nhân, quyền tự do lập nghiệp đoàn, tự do bãi công v.v…

    Chính phủ đã áp dụng những biện pháp thủ tiêu đặc quyền của thực dân Pháp ngày 30-10-1945, đóng cửa Sở Khoáng chất của Pháp ở Trung Bộ, ngày 30-5-1945  xóa bỏ đặc quyền khai thác của Pháp, lập ra các khu mỏ của Nhà nước ở Thái Nguyên, Nông Sơn (Quảng Ngãi), Khe Bố (Nghệ An).

    Nhiều nhà công thương Việt Nam đã tổ chức huy động vốn, thành lập công ty cổ phần để kinh doanh, ví dụ như: Việt Thương Công ty, có vốn 30 triệu đồng Đông Dương, có trụ sở ở Thuận Hóa, Trung bộ, mỗi cổ phần là 200 đồng Đông Dương, chuyên kinh doanh hàng nông sản xuất nhập khẩu. Việt Nam Công Thương ngân hàng có trụ sở ở 50 Tràng Tiền Hà Nội, có số vốn là 30 triệu đồng Đông Dương với 50.000 cồ phần, thởi hạn hoạt động là 30 năm. Hương Việt Công ty đặt trụ sở ở 24-26 Trần Nhật Duật Hà Nội, huy động vốn 500.000 đồng Đông Dương để làm tất cả các công cuộc đấu thầu, xây dựng, kiến thiết kỹ nghệ điện lực, cơ khí, hóachất, khai thác các nguồn lợi thiên nhiên như hầm mò, rừng biển, xuất nhập khâu hàng hóa. Công ty Việt Bắc ở số 7 phố Yết Kiêu Hà Nội là công ty trách nhiệm hữu hạn có số vốn là 300.000 đồng Đông Dương, chuyên kinh doanh vận tải hàng hóa, nhất là chở than và các hàng hóa xuất nhập khẩu, sắc lệnh số 91, ngày 30-5-1946 của Chủ tịch nước, cho phép ông Đỗ Long Giang – chủ mỏ tư nhân được hưởng đặc quyền tìm và khai thác than đá trên diện tích 900 ha ở khu vực Hòn Gai, trong thởi gian 30 năm.

    Các công ty trên đây đã bắt đầu đi vào hoạt động. Điều đó có thể thấy rằng, chù trương khuyến khích phát triển công thương nghiệp của chính quyền cách mạng đãđược giới Công – Thương hưởng ứng. Họ có niềm tin vào chế độ mới, mạnh dạn đầu tư, có ý tưởng làm ăn lâu dài, góp phần xây dựng nền kinh tế Việt Nam độc lập và thịnh vượng. Nhưng cuộc tải xâm lược của thực dân Pháp đã làm cho công cuộc kinh doanh phải ngừng lại.


Chính phủ mới tiến hành cải cách về tiền tệ

Tiền tệ

    Chính quyền cách mạng mới thành lập chưa có đồng tiền riêng, chúng ta vẫn phải dùng tiền Dông Dương, nhưng chúng ta lại không chiếm được ngân hàng Đông Dương. Vì vậy, Ngân hàng Đông Dương đã gây khó khăn cho chúng ta. Lúc đầu họ còn thực hiện theo lệnh của Nhà nước cấp tiền cho Chính phủ ta, nhưng khi thực dân Pháp quay trở lại, họ đã từ chối. Ngày 17- 11-1945, Cao uỷ Pháp ký lệnh huỷ bỏ toàn bộ loại giấy bạc in từ sau ngày 9- 3-1945, loại giấy bạc in từ trước 9-3-1945 giảm 30% và phải đổi trong một tuần, trước tỉnh hỉnh đó Chính phủ ta phải đấu tranh đòi tiếp tục cấp tiền cho chúng ta và kéo dài ngày đổi tiền.

    Ngoài ra, chính quyền cách mạng lại phải đối phó với tiền “tiền quan kim” và “quốc tệ”, loại tiền mất giá nghiêm trọng của Trung Hoa dân quốc do quân của Tưởng Giới Thạch mang sang. Chúng bắt chúng ta phải đổi 30 triệu đồng “quan kim” lấy 4,500 triệu đồng Đông Dương để cho quân Tưởng chi dùng, trong khi cả thị trường Đông Dương lúc đó đang lưu hành chỉ có 2.172 triệu đồng. Chính quyền cách mạng phải thực hiện chỉnh sách vừa mềm dẻo, vừa cương quyết, chống lại âm mưu gây rối về tài chính tiền tệ và bào vệ nền độc lập dân tộc.

Chính phủ mới tiến hành cải cách về tiền tệ

    Cùng với đấu tranh về tiền tệ vào cuối tháng 10-1945, chúng ta đã bí mật in tiền, in các loại tiền 5 đồng, 1 đồng, 20 đồng và tiền xu hào lẻ như 2 hào và 5 hào. Tháng 12-1945, chúng ta cho lưu hành tiền lẻ 2 hào và 5 hào, để giải quyết nạn khan hiếm tiền lẻ và cho nhân dân làm quen với tiền mới của chính quyền cách mạng. Sau đó chúng ta từng bước phát hành tiền trong cả nước. Lúc đó ở phía Bắc có quân Tưởng, phía Nam có quân Anh vì vậy  đầu tiên, tiền được phát hành từ vĩ tuyến 16 vào đến Nam Trung Bộ (31-1- 1946). Đúng vào ngày 2 Tết năm Bính Tuất, nhân dân hưởng ứng nhiệt liệt, theo quy định, một đồng tiền tài chính Việt Nam đổi lấy 1 đồng Đông Dương, nhưng nhân dân tín nhiệm đổi 1,2-1,3 đồng Đông Dương lấy 1 đồng tiền tài chính Việt Nam. Việc phát hành tiền Việt Nam đã giúp Chính phủ ở miền nam Trung bộ giải quyết những khó khăn lớn về tài chính, đồng thởi giúp cho Chính phủ ở Trung ương nắm được một số lớn tiền Đông Dương để chi tiêu ở miền Bắc, và bắt đầu hình thành lượng dự trữ ngoại tệ để sau này mua những mặt hàng ở vùng Pháp chiếm đóng, phục vụ cho nhu cầu kháng chiến.

    Đợt 2 từ tháng 8-1946, Chính phủ quyết định phát hành tiền từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc. Đợt 3 tháng 11-1946, kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa I quyết định phát hành tiền trong cả nước.

    Như vậy, chỉ hơn một năm sau khi thành lập nước chúng ta đã có đồng tiền riêng của mình, được pháp luật cho phát hành trên cả nước, được nhân dân Việt Nam tín nhiệm. Đó là một thắng lợi to lớn trong lịch sử tiền tệ ở Việt Nam. Từ đỏ Nhà nước đã có một công cụ rất quan trọng để giải trình xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: viet nam thoi phap thuoc

Đấu tranh xây dựng nền tài chỉnh và tiền tệ độc lập

Đấu tranh xây dựng nền tài chỉnh và tiền tệ độc lập

Tài chính

    Chính quyền mới được thành lập, yêu càu chi tiêu của Chính phủ phải có ngay, nhưng nguồn thu vào ngân sách của Chính phù gần như con số không. Ngân khố của chính quyền cũ để lại chỉ có 1,2 triệu đồng Đông Dương.

    Hệ thống thuế cũ phần lớn đã bị bãi bãi bỏ, thuế mới chưa đăt ra ngay được. Việc phát hành tiền giấy còn nằm trong tay Pháp. Sự kiệt quệ vê tài chính cũng là mối đe đọa nghiêm trọng đối với sự sinh tồn của Chính quyền Cách mạng.

Đấu tranh xây dựng nền tài chỉnh và tiền tệ độc lập

    Trong những năm đầu sau cách mạng tháng Tám, Chính quyền cách mạng không thể trông chở vào viện trợ nước ngoài. Các giải pháp vẫn phải là tự lực cánh sinh, phải dựa vào dân. Trước hết, Chính phủ kêu gọi sự đóng góp tự nguyện, ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân, thông qua phong trào “Quỹ Độc lập” theo sắc lệnh của Chính phủ ngày 4-9-1945, “Tuần lễ vàng” được tổ chức ngày 16-9-1945 nhằm “thu góp số vàng trong nhân dân và nhất là của các nhà giàu để dùng vào việc cần gấp và quan trọng nhất của chúng ta lúc này là quốc phòng. Kết quả nhân dân trong nước và kiều bào ta ở nước ngoài, và một số kiều dân cư trú ở Việt Nam đã tích cực hưởng ứng. Quỹ Độc lập thu được 20 triệu đồng Đông Dương và tuần lễ vàng thu được 370 kg vàng” (bằng số thuế thân và thuế điền thu của cả nước trong 1 năm dưới thởi Pháp thuộc). Những sự kiện lịch sử này phản ánh khát vọng của mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam lúc đổ: Độc lập dân tộc quý hơn vàng.

    Ở nhiều nơi, nhân dân còn có các hình thức ủng hộ khác như: cho mượn hoặc hiến nhà cửa cho Chính phủ, trường học, bệnh viện, trạm xá, tặng quần áo, thuốc men, lương thực thực phẩm, nuôi dưỡng bộ đội, cán bộ. Rất nhiều nhà tư sản, điền chủ, trí thức… đã đổng góp hết lòng cho cách mạng. Những hỉnh thức tài chính đặc biệt, dựa vào lòng yêu nước của nhân dân đãmang lại kết quả đáng kể, góp phần giải quyết những khó khăn về tài chính trong những ngày đầu cách mạng.

   Đồng thời với công việc trên, Chính phủ đã khẩn trương xây dựng nền tài chính dựa trên nguồn thu ổn định hơn – đó là thuế. Từ tháng 4-1946, Chính phủ cấm các địa phương không được phép tự động đặt ra những hình thức quyên góp. Những người vi phạm sẽ bị phạt tù từ 6 đến 45 ngày và phạt tiền từ 500 đến 5.000đ, tùy mức nặng nhẹ. Để sớm có hệ thống thuêmới, Chính phù đã dựa trên hệ thống cũ, sửa bỏ ngay những gì coi là bấtcông vô lý, bố sung những loại thu mới cho phù hợp với tính chất của chế độ dân chủ, và tạo điều kiện cho nhân dân an tâm sản xuất.

    Ngày 7-9-1945 Chính phủ đã ban hành sắc lệnh số 11 về việc sửa dồi chính sách thuế. Trong đỏ đã quyết định bãi bỏ ngay thuế thân – một thứ thuế vô lý, trái ngược với tinh thần chính thể cộng hòa. Đình chỉ hằn việc bán thuốc phiện và rượu cồn như một nguồn thu tài chính thởi thuộc địa. Bãi bỏ các thể lộ quá hà khắc và phức tạp về kiểm soát thu mua và tiêu thụ muối của Pháp thởi thuộc địa. Từ nay Nhà nước mua muối của diêm dân với giá hợp lý và dề có muối bán cho dân ở thành phố và các tỉnh miền núi với giá on định.

    Ngày 22-9-1945, miễn giảm thuế môn bài kinh doanh nhỏ dưới 50 đồng, thuế chợ, xe đò, xe tay v.v… Ngày 26-10-1945, Chính phủ ban hành nghị định giảm thuế điền thổ 20%, miễn thuế cho các vùng bị lụt ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ v.v… Đồng thởi, điều chỉnh lại thuế thương mại, công nghệ, thuế xuất nhập khẩu v.v… Đẻ bù vào khoản thiếu hụt của ngân sách, Chính phủ dặt ra nguồn thư mới: “đảm phụ đặc biệt” đánh vào ngành vận tải, bưu điện, “đảm phụ quốc phòng”. Chấn chỉnh các nguồn thu đi dôi với việc thành lập bộ máy quản lý thu. Ngày 10-9-1945, Sở Thuế quan và thuế gián thu, Nha thuế trực thu, Nha thuế trước bạ, công sản và điền thổ v.v… dược thành lập.

    Trong lĩnh vực chi, Chính phủ thực hiện chi theo nguyên tấc tiết kiệm, tập trung cho nhiệm vụ cấp bách trước mắt lúc đỏ là: Diệt giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm, nhưng chủ yếu là xây dựng quỹ quốc phòng, xây dựng quân đội, và khôi phục kinh tế giải quyết nạn đói.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: việt nam thời pháp thuộc

Chính phủ Việt Nam khẩn trương mở chiến dịch cứu đói

     Sau Cách mạng tháng Tám 1945, đất nước gặp nhiều khó khăn về kinh tế. Tình hình tài chính kiệt quệ khi quyền phát hành tiền tệ vẫn còn nằm trong tay Pháp. Quân Quốc dân đảng vào Việt Nam đem theo tiền Trung Quốc ép chính phủ ta phải tiêu dùng cũng gây rối loạn tiền tệ. về chính trị, theo Hiệp định hiệp định Postdam do các nước Đồng minh ký kết, 18 vạn quân Quốc dân đảng Trung Hoa tràn vào phía Bấc Việt Nam, mang danh nghĩa đến tước khí giới của quân đội Nhật.

     Ở phía Nam, quân đội Anh đã tiến vào Sài Gòn, theo sau họ là quân đội Pháp. Đất nước bị bao vây phong tỏa về kinh tế khi tình hình chính trị có nhiều phức tạp. Kẻ thù khác nhau về màu da và tiếng nói nhưng đều có đã tâm chung là bóp chết nền cách mạng non trẻ của ta. Trong điều kiện ấy, để góp phần cùng cố chính quyền cách mạng, Đảng và Chính phủ đã nhanh chóng tiến hành phục hồi kinh tế.

Chính phủ Việt Nam khẩn trương mở chiến dịch cứu đói

Khẩn trương mở chiến dịch cửu đói

    Sau Cách mạng tháng Tám, nạn đói đầu năm 1945 có phần dịu đi do cách mạng phá kho thóc của Pháp – Nhật chia cho dân và vì vụ chiêm năm 1945 đã thu hoạch thêm được một số thóc, nhưng nạn đói vẫn rất trầm trọng. Hàng vạn người đang có nguy cơ bị chết đói vìsố thóc trên có ít mà vụ mùa năm 1945 bị thất thu 50% do có trận lụt lớn làm cho 9 tỉnh ở Bắc Bộ bị vỡ đê. Đó là một thử thách lớn, đe dọa nghiêm trọng đối với sự phát triền của cách mạng.

    Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời vào ngày 3-9-1945, Hồ Chủ tịch đã đề ra: Phải khẩn trương mở chiến địch cứu đói. Đó là một trong hai nhiệm vụ quan trọng của cả nước lúc ấy (cứu đói ở miền Bắc và kháng chiến ở miền Nam).

    Để giải quyết nạn đói, trước mát Chính phủ kêu gọi toàn dân đoàn kết giúp đơ lần nhau thông qua phong trào “Hũgạo cứu đói”,“Ngày cứu đói” v.v… Tổng Hội cứu tế và Hội cứu đói được thành lập, gạo quyên góp được đưa đến tận tay người đang bị đói.

     Chính phủ còn thực hiện các biện pháp tiết kiệm lương thực, cấm dùng lương thực để nấu rượu, làm quà bánh v.v… Đồng thởi, ban hành một số sắc lệnh nhằm giải quyết khó khăn về lương thực như sắc lệnh cấm đầu cơ tích trữ lương thực (5-9-1945), cho tự do lưu thông thóc gạo giữa các vùng, khuyến khích chuyển gạo từ Nam ra Bắc.

    Để giải quyết tận gốc nạn đói, Chính phủ đề ra phải đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp. Chính phủ có biện pháp để hỗ trợ cho nông dân như: ngày 29-11-1945, Bộ Nội vụ ra thông tư quy định địa chủ giảm tô25% cho nông dân, tạm cấp ruộng đất công, ruộng của bọn việt gian phản động và của thực dân Pháp cho nông dân cày cấy. Tổ chức nhân dân hàn khẩu những quãng đê bị vở, vận động nông dân nhanh chóng cấy tái giá, giúp nông dân vay vốn, cung cấp giống, nông cụ.

    Bằng nhiều biện pháp tích cực như trên, chỉ trong một thởi gian ngăn – từ tháng 9 đến tháng 12-1945, diện tích trồng hoa màu ở Bắc Bộ tăng 3 lần, năm 1946 so với năm 1944 sản lượng lúa vượt 38,8%. Nhờ đó nạn đói bị chặn đứng. Thắng lợi ấy là “một kỳ công của chế độ dân chủ nhân dân” và đã có tác dụng trọng yếu việc củng cố và bảo vệ chính quyền nhân dân.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: thời pháp thuộc

Pháp duy trì và cấu kết với tầng lớp phong kiến Việt Nam

    Thực dân Pháp đã duy trì và cấu kết với tầng lớp phong kiến để kinh doanh và bóc lột. Sự kết hợp lối cướp bóc đế quốc với hình thức bóc lột phong kiến đối với người lao độnga là một đặc điểm của phương pháp bóc lột thuộc địa, đảm bảo lợi nhuận lũng đoạn cho tư bản tài chính của đế quốc. Quá trình Pháp đô hộ Việt Nam đã thúc đẩy, rút ngắn thởi kỳ thai nghén và ra đời của thành phần kinh tế tư bản tư nhân và giai cấp tư sản Việt Nam. Nhưng ngay từ khi mói hình thành, giai cấp tư sản nước ta đã bị Pháp cạnh tranh, chèn ép và chỉ có thể hoạt động được trong những khe hở của chủ nghĩa tư bản độc quyền ngoại quốc. Do đó, tiềm lực kinh tế của giai cấp tư sản Việt Nam rất nhỏ bé.

    Về mặt xã hội, để tạo nên chỗ dựa cho chính quyền thuộc địa, thực dân Pháp thực hiện một số chính sách ưu đãi đối với địa chủ và tư sản, sử dụng những người có công hoặc trung thành với chế độ thực dân trong bộ máy chính quyền của họ. Bản thân giai cấp địa chủ phong kiến bản xứ cũng cần có sự hỗ trợ của chính quyền thực dân để duy trì và bảo vệ quyền lợi của họ. Sự liên kết giữa thế lực thực dân và địa chủ phong kiến trở thành lực cản rất lớn đối với sự phát triển xã hội, kìm hãm những nhân tổ tiến bộ trong sự phát triển lịch sử khách quan của dân tộc Việt Nam.

Pháp duy trì và cấu kết với tầng lớp phong kiến Việt Nam

    Về trình độ phát triển của nền kinh tế, sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản Pháp đãlàm xuất hiện một số nhân tố mới trong nền kinh tế Việt Nam.

     Đó là những cơ sở hạ tầng trong lĩnh vực giao thông vận tải, những xí nghiệp công nghiệp sửdụng máy móc kỹ thuật, những đồn điền trồng cây công nghiệp tập trung với quy mô lớn nhàm mục đích xuất khẩu… Các công ty của người Pháp đem theo phương thức kinh doanh của nền sản xuất tư bản với hiệu quả cao hơn nhiều so với sản xuất nhỏ truyền thống ở Việt Nam. Các lĩnh vực dịch vụ như ngoại thương, ngân hàng, tiền tệ, tài chính nấm trong tay người Pháp cũng đều là hiện thân của một nền kinh tế tư bản.

   Cơ cấu kinh tế bước đầu có sự biến đồi, kinh tế hàng hóa tư bản nảy sinh và phát triển, gắn nền kinh tế Việt Nam với kinh tế thế giới. Kinh tế tự cung tự cấp có chiều hướng thu hẹp. Trong cơ cấu tổng sản phẩm xã hội của Đông Dương, trong đó có Việt Nam đã thay đồi theo xu hướng: khu vực nông, lâm nghiệp và thủ công nghiệp truyền thống đã giảm từ 87,8% năm 1901 xuống 66,5% năm 1937.